Nguyên liệu chiếm phần lớn giá thành một chiếc áo mưa, và lỗi nguyên liệu là lỗi không sửa được sau khi đã cắt. Vì thế mỗi lô cuộn nhập về xưởng nên qua ba bước: đối chiếu thông số với đơn đặt, kiểm nhanh vài chỉ tiêu tại chỗ (độ dày, màu, mặt phủ, thử hàn hoặc thử may), rồi cất đúng cách để cuộn không dính lớp, không biến dạng trước khi dùng.
Bài này nhìn nguyên liệu từ góc của xưởng làm áo, không đi vào hoá học polymer hay sản xuất hạt nhựa. Những con số trong bài là ví dụ giả định; thông số thật phải lấy từ nhà cung cấp và từ phép thử trên chính cuộn hàng.
Thứ tự bài đi theo đường đi của cuộn hàng trong xưởng: đặt mua với thông số rõ, kiểm khi nhận, hiểu đặc tính của PVC, cất kho, tính định mức, giữ lô màu, làm việc với nhà cung cấp, và cuối cùng là xử lý phần rìa thừa.
Bốn nhóm nguyên liệu và điều cần hỏi khi đặt
Mỗi nhóm có những thông số quyết định chất lượng áo. Khi đặt hàng, hỏi đủ các thông số này và yêu cầu ghi trên phiếu giao hoặc nhãn cuộn.
| Nhóm | Thông số nên hỏi | Điểm hay sai lệch | Cách ghép thường dùng |
|---|---|---|---|
| PVC dẻo (có hoặc không lớp vải nền) | Độ dày, khổ, màu, độ mềm, có lớp vải nền không | Độ dày không đều giữa mép và giữa cuộn; mùi nồng; dính lớp | Hàn cao tần |
| EVA | Độ dày, khổ, màu, độ trong | Quá mềm, khó hàn; dễ nhăn khi nóng | Hàn nhiệt, một số loại hàn cao tần |
| PE màng mỏng | Độ dày, khổ, màu, đã xử lý bề mặt chưa (nếu cần in) | Mỏng hơn đặt; rách mép; mực không bám | Hàn nhiệt |
| Vải polyester, nylon phủ chống thấm | Loại sợi, mật độ dệt, loại lớp phủ, chỉ số cột nước công bố, khổ | Lớp phủ không đều, bong; màu lệch giữa các cây vải | May, dán băng chống thấm |
Khi nhà cung cấp ghi độ dày theo cách gọi riêng (ví dụ "dem", "zem" trong cách nói ở chợ), hãy quy đổi về milimét và ghi rõ trong đơn đặt để hai bên hiểu cùng một con số.
Chỉ số cột nước của vải, nếu có, nên kèm phương pháp thử đã dùng; con số không kèm phương pháp khó so sánh giữa hai nhà cung cấp.
Kiểm cuộn khi nhận: làm ngay tại cửa kho
Không cần phòng thí nghiệm. Vài phép kiểm dưới đây phát hiện phần lớn lô hàng không đạt trước khi chúng vào dây chuyền.
- Đối chiếu nhãn cuộn với đơn đặt: loại, độ dày, khổ, màu, số cuộn, số mét hoặc khối lượng.
- Kiểm bên ngoài cuộn: lõi có bẹp, cuộn có méo, mép có rách, có vết nước hay bẩn.
- Cắt một đoạn ở đầu cuộn, đo độ dày bằng panme ở mép trái, giữa và mép phải; chênh lệch lớn là dấu hiệu màng không đều.
- So màu với mẫu màu đã duyệt dưới ánh sáng tự nhiên.
- Với PVC, EVA: hàn thử một đường trên máy của xưởng với thông số chuẩn, xé thử; với vải phủ: may và dán băng thử một đoạn, đổ nước kiểm.
- Với PE định in logo: dán băng keo lên một vệt mực in thử, giật xem mực có bám.
- Ghi kết quả vào phiếu nhận, chụp ảnh, ghi số lô của nhà cung cấp.
Nếu cuộn không đạt, báo nhà cung cấp ngay trong ngày kèm ảnh và mẫu cắt. Đợi đến khi đã cắt hàng trăm chi tiết mới phát hiện thì khó đòi đổi và mất công cắt.
Chất hoá dẻo và mùi: điều cần biết về PVC
PVC làm áo mưa mềm được là nhờ chất hoá dẻo trộn vào nhựa. Chất này giúp áo dẻo khi lạnh, nhưng nó có xu hướng di chuyển dần ra bề mặt theo thời gian, nhất là khi nóng. Kết quả là cuộn PVC để lâu trong kho nóng có thể nhờn, dính lớp, và áo làm từ cuộn đó có mùi nồng hơn.
Lượng và loại chất hoá dẻo ảnh hưởng tới độ mềm, mùi và độ bền của áo. Một số thị trường giới hạn việc dùng một số chất hoá dẻo trong đồ dùng, nhất là đồ cho trẻ em. Nếu xưởng làm hàng cho trẻ em, hàng xuất khẩu hoặc đơn của doanh nghiệp có yêu cầu riêng, hãy hỏi nhà cung cấp tài liệu về thành phần và kết quả kiểm nghiệm, và hỏi bên đặt hàng về yêu cầu cụ thể.
Đừng khẳng định với khách rằng nguyên liệu "không độc" hay "an toàn tuyệt đối" khi không có giấy tờ kiểm nghiệm. Điều xưởng làm được là chọn nhà cung cấp có tài liệu rõ ràng, lưu tài liệu theo từng lô, và cho áo thành phẩm thời gian thông thoáng trước khi đóng gói để mùi giảm bớt.
Cất kho để cuộn không dính lớp, không biến dạng
Khô, mát, tránh nắng. Nhiệt và tia cực tím làm PVC mất chất hoá dẻo, dính lớp, đổi màu; làm PE giòn. Kho có mái cách nhiệt, không để cuộn sát tường nắng hay dưới mái tôn.
Đặt cuộn đúng tư thế. Cuộn nặng nằm ngang lâu ngày có thể bị dẹt một bên, sinh nếp gấp cố định. Nhiều xưởng đặt cuộn đứng trên pallet hoặc treo qua lõi trên giá; hỏi nhà cung cấp cách cất phù hợp.
Không đè nặng. Không chất cuộn này lên cuộn khác, không đặt thùng hàng lên cuộn. Áp lực cộng nhiệt là nguyên nhân chính của dính lớp.
Nhập trước dùng trước. Ghi ngày nhập lên cuộn, dùng cuộn cũ trước. Cuộn nằm kho quá lâu nên kiểm lại trước khi đưa vào cắt.
Tách khỏi nguồn nhiệt và nguồn lửa. Kho nguyên liệu là khối nhiên liệu lớn của xưởng. Xa máy hàn, xa bếp, không hút thuốc, có bình chữa cháy và lối thoát thông.
Che bụi. Bụi bám lên màng nhựa làm đường hàn kém và tăng nguy cơ phóng hồ quang. Bọc lại cuộn đang dùng dở.
Định mức và hao hụt: tính bao nhiêu mét cho một chiếc áo
Định mức nguyên liệu là lượng vật liệu cần cho một chiếc áo, gồm phần nằm trong áo và phần rìa thừa khi cắt. Nó quyết định số cuộn cần nhập và là con số chính trong giá thành.
Cách xác định thực tế: xếp các chi tiết của một bộ khuôn lên khổ vật liệu sao cho ít rìa thừa nhất (giác sơ đồ), đo chiều dài vật liệu đã dùng, chia cho số áo trên sơ đồ đó. Ví dụ giả định: một sơ đồ dài vài mét cắt được vài chiếc áo ở các size khác nhau; chia ra được mét dài cho mỗi chiếc. Size lớn tốn hơn size nhỏ, nên định mức phải tính theo cơ cấu size thật của đơn.
Hao hụt còn đến từ đầu cuộn, cuối cuộn, chỗ lỗi phải bỏ, chi tiết cắt hỏng, áo lỗi khi hàn. Ghi lại hao hụt thực tế theo từng đơn trong vài tháng đầu, rồi dùng con số đó khi báo giá thay vì đoán.
Giác sơ đồ tốt có thể tiết kiệm đáng kể nguyên liệu. Thử xoay chi tiết, xếp xen kẽ size lớn với size nhỏ, tận dụng rìa để cắt chi tiết nhỏ như túi, nẹp. Với vải có chiều sợi hay vật liệu có hoa văn, việc xoay chi tiết bị giới hạn; ghi chú điều này lên khuôn.
Làm việc với nhà cung cấp nguyên liệu
Nguồn nguyên liệu ổn định quan trọng hơn giá rẻ một lần, vì đổi nguồn là phải chỉnh lại thông số hàn, may, và màu có thể lệch giữa các đơn.
- Giữ một mẫu chuẩn cho mỗi loại vật liệu thường dùng, ghi ngày, số lô; mỗi lô mới so với mẫu này.
- Đặt trước cho mùa cao điểm; nguyên liệu cũng khan và tăng giá khi các xưởng cùng cần.
- Thoả thuận cách xử lý cuộn lỗi: đổi, trừ tiền, thời hạn báo lỗi.
- Hỏi tài liệu thành phần, kiểm nghiệm khi làm hàng có yêu cầu riêng.
- Có một nguồn dự phòng cho vật liệu chính, đã thử trước trên máy của xưởng.
- Ghi lại lịch sử giá theo từng lần nhập để báo giá cho khách sát thực tế hơn.
Khi nhà cung cấp đề xuất vật liệu "tương đương" rẻ hơn, coi như vật liệu mới: thử hàn, thử may, thử in, làm vài chiếc áo mẫu, rồi mới quyết.
Rìa thừa và phế liệu: phân loại từ đầu
Rìa thừa sau khi cắt là phần không tránh được. Cách xưởng xử lý nó ảnh hưởng tới chi phí, an toàn và quan hệ với hàng xóm. Rìa nhựa chất đống quanh máy là nguồn cháy và cản lối đi; đem đốt thì sinh khói độc, nhất là với PVC.
Phân loại rìa theo loại vật liệu ngay tại bàn cắt: PVC riêng, PE riêng, vải riêng. Rìa sạch, cùng loại thường dễ bán hoặc giao cho đơn vị thu mua phế liệu hơn rìa trộn lẫn. Hỏi đơn vị thu gom ở địa phương họ nhận loại nào; quy định về chất thải công nghiệp thông thường áp dụng tuỳ quy mô xưởng, nên kiểm với cơ quan môi trường địa phương.
Rìa lớn có thể tận dụng cắt chi tiết nhỏ, làm túi đựng, miếng vá cho áo bảo hành. Tận dụng được bao nhiêu cũng là giảm định mức thật của xưởng.
Cuối mỗi tháng, cân tổng rìa thừa theo từng loại và so với lượng nguyên liệu đã dùng. Tỉ lệ rìa tăng bất thường là dấu hiệu sơ đồ cắt kém, khuôn mòn hoặc cắt hỏng nhiều, đáng xem lại.
Màu và lô màu: chuyện nhỏ thành chuyện lớn
Hai cuộn PVC cùng mã màu nhưng khác lô sản xuất có thể lệch màu nhẹ, mắt thường nhìn riêng thì không thấy, nhưng khi hai chi tiết của cùng một chiếc áo cắt từ hai cuộn khác nhau ghép cạnh nhau thì lộ rõ. Với vải phủ chống thấm, lệch màu giữa các cây vải còn rõ hơn.
Cách phòng đơn giản: ghi số lô trên mỗi cuộn, và trong một đơn hàng, cắt mọi chi tiết của một chiếc áo từ cùng một cuộn hoặc cùng một lô. Khi phải chuyển sang cuộn mới giữa chừng, đặt hai mẫu cạnh nhau dưới ánh sáng tự nhiên trước khi cắt tiếp.
Với đơn in logo cho doanh nghiệp hay đơn đồng phục có đặt bổ sung nhiều lần, giữ một mảnh mẫu của lô màu đã dùng, ghi tên khách và ngày. Lần sau đặt nguyên liệu, gửi mảnh này cho nhà cung cấp để họ chọn lô gần nhất. Khách đồng phục để ý màu lệch giữa các đợt hơn ta nghĩ.
Câu hỏi thường gặp
Làm sao biết cuộn PVC có đúng độ dày đã đặt?
Cắt một đoạn ở đầu cuộn, đo bằng panme ở mép trái, giữa và mép phải, so với độ dày ghi trong đơn đặt. Ghi rõ đơn vị milimét trong đơn để tránh hiểu lầm với các cách gọi độ dày ở chợ.
Vì sao cuộn PVC để lâu bị dính?
Chất hoá dẻo di chuyển ra bề mặt theo thời gian, nhanh hơn khi nóng; cộng với áp lực do cuộn nặng hoặc bị đè làm các lớp dính vào nhau. Cất nơi khô mát, không đè, dùng cuộn cũ trước.
PE có in logo được không?
Được nếu màng đã được xử lý bề mặt hoặc dùng mực chuyên cho PE; nếu không, mực rất khó bám. Hỏi nhà cung cấp màng đã xử lý chưa, và thử bám mực bằng băng keo trước khi nhận đơn in.
Định mức nguyên liệu cho một chiếc áo tính thế nào?
Giác sơ đồ các chi tiết trên khổ vật liệu, đo chiều dài đã dùng, chia cho số áo trên sơ đồ, rồi cộng hao hụt thực tế. Tính theo cơ cấu size thật của đơn vì size lớn tốn hơn.
Có cần giấy kiểm nghiệm nguyên liệu không?
Với hàng thông thường, giấy tờ nguồn gốc và nhãn cuộn là tối thiểu. Với hàng cho trẻ em, hàng xuất khẩu hay đơn có yêu cầu riêng, nên có tài liệu thành phần và kết quả kiểm nghiệm từ nhà cung cấp, lưu theo từng lô.
Rìa PVC thừa có đốt được không?
Không nên. Đốt PVC sinh khí độc hại cho người xung quanh và vi phạm quy định về môi trường. Phân loại, giữ sạch, giao cho đơn vị thu gom phế liệu hợp pháp hoặc tận dụng cắt chi tiết nhỏ.